Thứ Ba, 29 tháng 9, 2015

Bài viết của thiếu tướng Bùi Song Nhâm

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TÂN KỲ
MỘT THỜI ĐỂ NHỚ.
Bùi Song Nhâm
Cựu học sinh khóa 4 (1968-1971)

Người ta, ai sinh ra cũng có một quê hương nơi chôn rau cắt rốn. Đã là học sinh ai cũng có mái trường mà mình đã học. Mái trường là nơi ươm mầm chúng ta, trước là học để làm người sau là học văn, học nghiệp…
Mái trường trong ký ức của tôi- một thời để nhớ, một thời khắc sâu trong tâm trí học trò. Nhớ là nhớ thầy nhớ bạn, nhớ về những kỷ niệm vui buồn, nhớ về cái tuổi học trò trong trắng, nhớ cái tuồi vô tư, nhớ cái bồng bột đôi chút ngây thơ và đầy tinh nghịch nữa “nhất…, nhì…, thứ ba học trò” chắc các bạn cũng đồng cảm với tôi chứ!
Trường cấp ba Tân Kỳ thân yêu nay là Trường Trung học phổ thông, mái trường nơi tôi và bạn bè trang lứa học cuối cấp bậc phổ thông. Khóa của tôi tính từ khi thành lập là khóa 4 (1968-1971).
Chúng tôi học trong chiến tranh đánh phá miền Bắc của giặc Mỹ, Nghệ An ta là tuyến lửa, huyện Tân Kỳ là trọng điểm quá là ác liệt. Sao nói hết được bao khó khăn, vất vả của cả thầy và trò, của cả các thế hệ các anh chị và các bạn sau chúng tôi vài khóa. Cái khó đến ngay từ khi trường mới thành lập, chúng tôi vừa học vừa phải xây dựng trường vừa phải chuyển trường dời trường đi đường sông, cánh bè đi từ đất Dương Hạp, Nghĩa Dũng nơi sơ tán về thị trấn Lạt trung tâm của Tân Kỳ huyện cũng vừa mới thành lập được mấy năm. Chúng tôi học đâu có điện thắp sáng, chỉ có đèn dầu, dầu đèn cũng phải phân phối tiết kiệm. Lớp học được làm bán âm bán dương nửa chìm nửa nổi, xung quanh có lũy đất, hầm, hào để trú ẩn khi có báo động phòng không máy bay oanh tạc. Nhiều buổi học có lúc phải dừng lại để tránh bom. Ba năm học lớp tám, chín, mười ở thế hệ chúng tôi năm nào cũng có bạn phải xếp bút nghiên để lên đường ra trận theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc, rất nhiều bạn mãi mãi không bao giờ trở về nữa…
Quên sao được những bữa cơm chay của cả thầy và trò chỉ có ngô khoai phần nhiều với rau muống luộc nước chấm đại dương, đâu có cá thịt; họ ăn để sống, ăn để dạy và học. Ở thì thầy giáo, cô giáo cũng chỉ nhà tranh kiểu ký túc xá đơn sơ, bọn học sinh chúng tôi đứa có nhà quen thì ở trọ, còn phần đông năm ba đứa làm lán chung nhau. Khoảng vài tuần tranh thủ ngày chủ nhật “Đi xe của bộ” về với mẹ, gần cũng cách trường trên vài chục cây, xa phải hơn mấy chục nữa.
Một kỷ niệm chẳng vui gì nhưng nhớ đời, ba năm học có lẽ rất ít bạn không một đôi lần bị ghẻ ruồi, hắc lào hành cho, cũng do sinh hoạt kham khổ bề bộn, thiếu nước; tụi con trai chúng tôi đành chịu được nhưng thật thương cho tui con gái má hồng…
Quên sao được một thời những thầy giáo, cô giáo từ miền xuôi xứ Nghệ, từ khắp miền đất nước về với xứ “Ty cần-Tân Kỳ” để chung tay trồng người dưới mái trường này. Từ thầy Hiệu trưởng, Hiệu phó đến các thầy giáo cô giáo chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, nhân viên văn phòng nhà trường…, đều xắn quần móng ngựa lăn xả với học sinh cùng lao động xây trường, cùng thể thao, cùng ca hát dưới mái trường. Thật là trên tuyệt vời! Trong khó khăn sao mà đẹp thế, ấm áp tình người như thế.
Nhìn thầy cô mà thương, thật sự các thầy các cô là những tấm gương sống động để chúng tôi đám học trò cưng đâu dám nhụt chí sỹ tử. Tôi muốn kể thật nhiều, nhiều nữa… nhưng kể sao hết được, cũng trong dịp hướng về kỷ niệm này đã có rất nhiều tiểu hồi ký, nhiều cảm nhận, nhiều bài thơ hay về trường của cả thầy và các bạn học trò đăng trên Facebook như thầy Phạm Quý Hùng, học sinh Phạm Quốc Khánh khóa 3, Đoàn Xuân Hòa khóa 4, Bùi Đức Trọng khóa 7…
Quên sao được những buổi học chỉ đơn giản bảng đen, phấn viết, bút mực Cửu Long cũng phân phối…Học theo kiểu truyền thống bởi chiến tranh và thiếu thốn đành phải vậy. Cái quý nhất của thời chúng tôi dù khó khăn nhưng thầy cô thì rất tâm huyết với nghề, học trò rất đỗi say sưa trọng học. Hình ảnh các thầy giáo cô giáo mãi đến nay vẫn để lại trong chúng tôi nhiều ấn tượng sâu sắc: thầy Khóa, thầy Khầm, thầy Hùng, thầy Tám, thầy Chín, thầy Lai, thầy Xiêm, thầy Phượng, thầy Thâu, cô Liên, cô Thái, cô Thẩm, thầy Lương, thầy Ngọc, thầy Huấn, thầy Chiên, thầy Bảo, thầy Khải, thầy Hòe, …
Kỷ niệm năm mươi năm ngày thành lập trường. Năm mươi năm một chặng đường nửa thế kỷ ra đời, trưởng thành và phát triển. Lễ kỷ niệm cũng là ngày hội nhân văn sâu sắc, đó là ngày hội của tình người tình thầy trò tình trò với trò các thế hệ. Ngày hội gặp nhau mừng mừng, vui vui, nhớ nhớ; nhớ về một thời đáng nhớ, một thời rất đẹp và tự hào gặp nhau ai mất ai còn, để chia sẻ, để động viên nhau trong cuộc sống và đời thường.
Nhìn mái trường ta hôm nay đàng hoàng và khang trang, chúng ta chúc mừng thành quả năm mươi năm. Chúng ta có quyền tự hào và tin tưởng trong những thập kỷ tiếp theo, với những thế hệ mới một đội ngũ thầy giáo, cô giáo trẻ trung sung sức, các bạn học sinh hôm nay mơn mởn phơi phơi sức xuân. Một mái trường sẽ không ngừng phát triển và hoàn thiện đi lên trong những điều kiện thuận lợi mới của đất nước, được tận hưởng thành quả của công nghệ thông tin trong dạy và học, được phát huy trí tuệ trong một thế giới thông minh, thế giới phẳng, thế giới nhanh…đang chờ đón chúng ta, chúc mừng nhà trường. Xin mượn một câu dân ca Nam bộ thân thương “Trường cũng đẹp, lớp cũng đẹp, nhìn đâu đâu cũng đẹp” về mái trường thân yêu.
Kỷ niệm năm mươi năm Trường Trung học phổ thông Tân Kỳ, dù đi đâu về đâu, dù mưu sinh góc biển chân trời nào lòng chúng tôi luôn nhớ về mái trường thân yêu. Cũng nhân ngày kỷ niệm truyền thống này cho phép chúng tôi các thế hệ học sinh xin được tri ân các thầy giáo cô giáo các thế hệ của trường vì sự nghiệp trồng người vì học sinh thân yêu.
Xin được tri ân mảnh đất Lạt ân tình đậm đà khó quên, tri ân các cấp lãnh đạo, các ban ngành huyện và nhân dân Tân Kỳ với nghĩa tình “Tôn sư trọng đạo-Kính thầy trọng học” suốt năm mươi năm đã đồng hành, cùng chăm lo cưu mạng, đùm bọc cả về vật chất và tinh thần cho Trường Trung học phổ thông Tân Kỳ nói riêng và các trường trung học khác trong huyện nói chung.
Cũng trong ngày hội trang trọng này, các thế hệ học sinh chúng tôi xin được thắp một nén nhang lòng thành kính tưởng nhớ các thầy các cô đã đi xa, tưởng nhớ các anh các chị các bạn học sinh đã hi sinh vì Tổ Quốc; tri ân các anh các chị, các bạn là thương binh, bệnh binh đã góp phần xương máu cho đất nước toàn thắng.
Chuẩn bị đến ngày “Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11” xin chúc mừng các thầy giáo cô giáo các thế hệ của Trường Trung học phổ thông Tân Kỳ hạnh phúc. Chúc sự nghiệp giáo dục đào tạo của nhà trường liên túc phát triển.
Tháng 9 năm 2015
Song Nhâm Bùi với Khánh Phạm   
bức ảnh năm 1970 Nhâm tiễn Khánh đi học đại học tại lán học ở Lạt 

Viết về cấp 3 Tân Kỳ !

Phạm Thúy Vinh

Ban Biên Tập Tạp San Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường THPT Tân Kỳ.
Ngồi biên tập tập san, đọc lại bài viết của các thầy cô, các anh chị học sinh cũ của trường mà cay cay nơi khóe mắt... Từ trong sâu thẳm những câu từ vẫn là cái ngọt ngào của tình sâu nghĩa nặng... Đúng là, ân tình ai nỡ lãng quên... Xin trân trọng giới thiệu với mọi người chùm thơ của nhà thơ Đoàn Xuân Hòa - Cựu học sinh khóa III - trường THPT Tân Kỳ.
Nhà thơ Đoàn Xuân Hòa
Hội viên HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM
Học sinh khóa 1968 - 1971
Năm 2015, Trường PTTH Tân Kỳ tròn 50 tuổi và chúng tôi – những lớp học sinh khóa đầu tiên của Trường đã qua tuổi Lục tuần. Ngắm nhìn các thầy cô giáo và lớp học trò hôm nay trong tôi cứ trào lên cảm giác Trường mình mãi trẻ, kể cả trăm năm sau vẫn trẻ. Còn chúng tôi thì già thật rồi!
Già để nhớ về ngày xưa chưa xa đói không thể đói hơn, rét không thể rét hơn, những lớp học nửa chìm, “những mái lán chông chênh bên rừng lim đầy gió”…
Già để tiếc không bao giờ trẻ lại thưở “nhất quỷ nhì ma”, sáng trong mà vụng dại…
Già để chín hơn trong tâm khảm mỗi người lòng biết ơn sâu sắc các thầy cô giáo hết lòng vì học sinh thân yêu…
Già để chiêm nghiệm lại số phận mỗi đời người mà những năm tháng ngồi dưới mái trường cấp 3 Tân Kỳ là một cột mốc, như cột Km0 của con đường Hồ Chí Minh huyền thoại ở chính nơi này.
Gửi về Xứ Lạt
Tặng các bạn cấp 3 Tân Kỳ thân yêu của tôi
Cứ như là ngọn gió Thanh Tân
Rủ ta về xứ Lạt
Ơi Lạt mềm buộc chặt
Tình bạn bầu xa hút mấy mươi năm.
Nhớ rừng lim thuở trước đã thưa dần
Bao bạn trẻ ngày đi không trở lại
Bạn đã sống suốt đời Mười tám tuổi
Nén hương chiều gọi bạn dọc triền xanh.
Vẫn còn đây ánh mắt tần ngần
Yêu tư lự nhìn nhau qua cửa lán
Tuổi Sáu mươi râm ran bè bạn
Những nẻo đường nghe gió cuốn xôn xao.
Ngoảnh lại nhìn năm tháng tự chiêm bao
Người lên tướng, người trở thành giáo chức…
Bạn ở quê neo mình trên rẫy bắp
Những cuộc đời, những số phận hòa tan.
Ta ước chi đời còn được dăm lần
Sống trẻ lại buổi đến trường mỗi sáng
Thả trôi hết những ưu phiền giả tạm
Để được cười hồn hậu đến rưng rưng.
Một khúc miền Trung
Tổ Quốc ở trong tôi
Có dải đất thắt mình như dáng mẹ
Lắng sâu một tiếng đàn bầu
Dải đất miền Trung.
Tôi đi dọc con đường gió Lào thổi ngang lưng
Một nửa mình, hun màu đồng đỏ
Một nửa mình, xanh gió trùng khơi
Một nửa con đường, cát tung lửa về trời
Một nửa con đường, rừng hứng vào trưa nắng
Một nửa dòng sông, chất đầy sóng biển
Một nửa dòng sông, mọng mưa rừng tây.
Biển tròn xanh như một trái dừa đầy
Núi đứng ngắm ngàn năm khao khát quá
Bông hoa nở lặng thầm bên vách đá
Tiếng chim chuyền trong kẽ lá lanh chanh
Đèo Ngang ơi! Tôi nhớ buổi chiều vàng
Cuốc cuốc kêu xa rồi, còn vọng nữa
Gió thổi ngược thời gian những câu thơ vạn thủa
Tứ thơ bay dìu dặt ở lưng đèo.
Tứ thơ bay qua những xóm nghèo
Ruộng “lác đác”, nhà bên sông “lác đác”
Tóc mẹ trắng giữa chiều vương khói bếp
Tiếng sáo trời vách liếp lan xa
Những thị xã chưa nguội thời chinh chiến
Mái tôn nhà lẻng xẻng tiếng chiêng la.
Nghĩ nơi này nắng lửa sinh ra
Nghĩ nơi này gió cát sinh ra
Lốc số Hai tràn qua
Bão số Ba ập tới….
Gương mặt cha sạm những cù lao nổi
Sóng đổ vào vầng trán nhiều hơn
Nắng phanh phui lên lưng áo mẹ sờn
Ớt rừng rực thắp đầy nón lửa
Cả tóc em gió xòa tung trước cửa
Cũng đượm mùi đồng nội quá hanh hao.
Ôi miền Trung, miền Trung
Cát bỏng gió Lào
Tôi lớn dậy dưới trời cong rộp ấy
Thân như củi một thời đen nhẻm cháy
Vũng ao lầy từng mát thịt da tôi
Tóc vàng khô như lau sậy ven đồi
Sim nhuộm tím răng em mười tám tuổi
Lần đầu tiên trái tim tôi đạp vội
Đất gan gà in dấu một tình yêu.
Ôi miền Trung
Đồng đội tôi gửi thịt xương mình
Ngày giữ chốt máu tưới bầm mặt cát
Tổ Quốc ở trong tôi
Một miền Trung dài hẹp
Một miền Trung đất thiếu - trời thừa
Cát
và gió
và mặt trời bốc lửa
Cháy hồn tôi những khát vọng không cùng.

Truyền thuyết một dòng sông
Anh kể em nghe
Truyền thuyết một dòng sông
Thơm tóc người con gái
Chốn Đào Nguyên có chàng trai mê mải
Hóa Vực Rồng thức đợi suốt mùa Trăng.
Bụi đỏ trời ngày vỡ đất khai hoang
Đêm mơ ngủ gặp hoa cà phê trắng
Đôi chim gáy rù rì trưa bãi vắng
Thả mặt trời lên mỗi bắp ngô xanh.
Anh tìm em ngút ngát thời gian
Tân Phú, Tân Long, Hạ Sưu, Tân Thái…
Anh gọi em tiếng lèn xa dội lại
Em ở đâu giữa mía ngọt cam vàng.
Ngày anh về cầu đã bắc sang ngang
Làng cứ mới để anh thành khách lạ
Ai ngược phà Sen, ai xuôi Bãi Đá
Đồng chiều nào chân sáo lối em xưa.
Nhà ai kia ửng đỏ ngói Cừa
Cây thắm lại qua bao mùa thay áo
Ơi sông Con suốt một đời thơm thảo
Sông hay em tắm mát bãi bờ.
Anh kể em nghe
Truyền thuyết mới sông Con
Mà em là câu hát
Cô gái trẻ nhìn anh sau lá biếc
Bỗng bàng hoàng gặp lại giấc mơ xa.

Người đàn bà đội nước
Người đàn bà đội lên đầu
Những vò đất nung
Vẹn nguyên hình hài nước.
Dọc dài miền Trung
Áo đất vàng cỏ cháy
Tre trơ xương, vu vơ xỉa lên trời
Lầu ông Hoàng
Mộ đất xếp chơi vơi…
Gió liếm sạch những dấu chân trên cát
Đi về đâu ?
Người đàn bà đội nước
Lưng vồng lên đồng dạng với lưng đồi.
Chỉ còn pho tượng nhìn ta đâu đáu
Màu đỏ cháy đêm
Nhắc một thời đạn lửa
Biển ngoài kia tấp sóng trắng lên đầu.
Đêm Mị Châu
Chị hiện về sau Bốn ngàn năm
Trên cổ ngọc còn lằn in vết kiếm
Máu hóa ngọc trai ngậm tăm đáy biển
Bỗng nhói điều gì trong đêm bão giông?
Đá mồ côi rụng xuống biển Đông
Thay đầu chị ngàn lần mang tội chết
Tình yêu viển vông chị đâu có biết
Lông ngỗng trắng đường tang tóc sau lưng...
Bốn ngàn năm cuộc truy sát không ngừng
Thần Kim Quy hiện lên mỗi khắc
Nàng Vọng Phu chưa thôi nhìn ải Bắc
Lệ đã nhòe vời vợi phía khơi xa.
Lẫy nỏ giả ngày xưa mang mác Triệu Đà
Giờ tàng hình trong táo lê thơm phức
Đỏ ngoài da mà bụng đầy thuốc độc
Cái chết bọc đường đau hơn cung tên.
Sân chầu kia cỏ rác bén bên thềm
Dưới đáy giếng ẩn hình Trọng Thủy
Kẻ bội tình chưa một lần ly dị
Lời hẹn vàng thập lục so dây.
Bốn ngàn năm như một chuyến đò đầy
Cha Thục Phán gồng lưng làm sóng đỡ
Với xã tắc Cha đã từng mắc nợ
Giục chị về nhắn lại với mai sau./.

Đây là bài hát cuối của nhạc sỹ An Thuyên dành tặng cho Tân Kỳ chưa kịp về trao tặng - anh đã đi xa
Một nuối tiếc rất trân trọng
  CÂU HÁT SÔNG CON - Lời thơ anh Đoàn Xuân Hòa - nhạc An Thuyên

Nhớ về Tân Kỳ một thời

HƯỚNG VỀ 50 NĂM THÀNH LẬP TRƯỜNG PTC3 TÂN KỲ NGHỆ AN
Bài thơ hoài niệm trường !
50 năm thành lập trường
47 năm qua mau bao nhớ thương
Bôn ba rong ruổi khắp nẻo đường
Về với mái trường cấp 3 Tân Kỳ của quê hương !
Trong chiến tranh gian khó coi thường
Mái lớp lợp tranh , trong hầm ngồi học
Bức vách trét rơm trộn bùn bao bọc
Che đạn bom , nuôi lớn những lớp người
Từ nơi đây tỏa khắp muôn nơi
Người đi học , người ra chiến trường đánh giặc
Xây dựng non sông , đất nước rạng ngời
Những người trò cấp 3 Tân kỳ - là thế đấy !
bây giờ được về thăm trường vui biết mấy
Khang trang bề thế , phòng học giảng đường
Khuôn viên sáng rộng , cảnh đẹp dễ thương
thầy và trò là những tấm gương
Của thời đại , dưới mái trường xã hội
Kịp vươn theo ngang tầm thay đổi
Cứ từng ngày đổi mới đẹp hơn
Cấp 3 Tân Kỳ luôn trong trái tim tôi !
Tự hào thay
Cấp 3 Tân kỳ hôm nay
Tụ hội đủ 50 thời kỳ ăn học
Đi xa
Hay ở quê nhà
đều gian nan khó nhọc
Vẫn trò ngoan , học giỏi nên người
Xin gửi về trường những đóa hoa tươi
Trò Tân kỳ luôn giữ sắc điểm tô đời !
Sài gòn ngày 6-9-2015 - 
kính tặng trường PTC3 Tân kỳ
Trò thế hệ thứ 3 của trường Phạm Quốc Khánh
lớp 10B niên học 1967 - 1970
Thầy giáo toán của trường 1976 
Đây là lớp của chúng tôi
1.hàng đứng sau : trịnh Hữu bi , Nguyễn Hữu Lục , Trần Văn Đàm , Nguyễn Văn Sỹ , Nguyễn Thị hải , Nguyễn Văn Quang , Nguyễn Xuân Đồng , Nguyễn Trọng Thuyết , nguyễn văn Thiết , Nguyễn Trọng Thế , Nguyễn Văn Hải , Nguyễn khắc Hải , trần Văn Thành , nguyễn Văn Sửu , Bành Đức Hòa 
2. Hàng ngồi ghế : Ngô Thị Trực , Nguyễn Thị Sồng , Nguyễn Thị Tâm , Nguyễn song hào , Phạm văn Mão , Thầy Phạm Quý Hùng , Thầy Võ sỹ Phượng , Nguyễn văn Quang , Phan Lê Đức , Nguyễn Trọng Thưởng , Phạm Quốc Khánh , Dương văn Đồng 

3. Hàng ngồi trước : Nguyễn thị Bàng , Nguyễn Thị Phượng , Lê thị Hiển , Thái kim Thành , Ngô Thị Xuân , Nguyễ Thị Huệ ,, Ngô Thị Loan , Nguyễn Thị Tuyết , Nguyễn Văn Thắng .

Binh nhì Phạm Quốc Khánh 1972 - đi chiến trường C







Chùm ảnh giao lưu cấp 3 Tân kỳ với học sinh tại Sài gòn 27-9-2015